7,3% dân số Việt Nam mắc đái tháo đường ![]()
So sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và năm 2012 thì tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng tới 211%. Mới đây, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đái tháo đường ở Việt Nam là 7,3%.

1. Vậy Bệnh tiểu đường là gì? Lứa tuổi nào hay mắc?
Bệnh tiểu đường hay còn gọi đái tháo đường là thuật ngữ y khoa của nhóm bệnh mãn tính liên quan đến những bất thường về lượng đường trong máu. Đây là căn bệnh thường gặp và xuất hiện ở nhiều lứa tuổi khác nhau.
Để giải thích về bệnh tiểu đường thì có 2 yếu tố mà chúng ta cần quan tâm chính là glucose và insulin. Glucose là hoạt chất đường có vai trò quan trọng đối với sức khỏe cụ thể đây là nguồn năng lượng cho các tế bào trong cơ thể hoạt động, đặc biệt là đối với tế bào não. Glucose được nạp chủ yếu qua đường ăn uống cụ thể là các loại đường sử dụng trong nấu ăn, trái cây, rau củ,…
2. Phân loại bệnh tiểu đường

2.1. Tiền đái tháo đường: Là giai đoạn có các dấu hiệu đái tháo đường và mức đường huyết sẽ dao động từ 100 - 125mg/dL so với mức bình thường là 70 -m99 mg/dL.
2.2. Đái tháo đường type 1: Khi lượng đường huyết trong máu vượt 125mg/dL thì đây là giai đoạn người bệnh được chẩn đoán tiểu đường type 1. Trong giai đoạn này, cơ thể người bệnh xuất hiện phản ứng tự miễn khiến cho việc sản xuất insulin không đạt hiệu quả hoặc thiếu hụt. Và cách để giúp điều chỉnh tình trạng này thì các bệnh nhận sẽ được sử dụng insulin nhân tạo dưới dạng viên cùng các loại thuốc đi kèm khác.

2.3. Đái tháo đường type 2: Người bệnh đái tháo đường thường phát hiện khi ở giai đoạn này vì những ảnh hưởng của việc dư đường trong máu đã có nhiều biểu hiện rõ rệt hơn. Ở giai đoạn này, có thể vẫn sản sinh ra insulin nhưng hoạt chất này lại không tạo ra phản ứng chuyển hóa đường do các tế bào kháng insulin hoàn toàn. Khi bệnh nhân đái tháo đường type 2 sẽ được cung cấp insulin dưới dạng đường tiêm hàng ngày hoặc dạng viên với liều cao hơn.

2.4. Tiểu đường thai kỳ: Đây là tình trạng thường gặp đối với phụ nữ khi mang thai. Do những thay đổi về nội tiết tố khiến cho tế bào không còn nhạy cảm với insulin so với trước khi mang thai. Tình trạng này có thể kéo dài hết thai kỳ và sau đó hoặc có một số phụ nữ mang thai chỉ mắc tiểu đường thai kỳ trong một giai đoạn ngắn. Ngoài ra một số phụ nữ mang thai cũng không mắc hiện tượng này. Điều này được lý giải bởi nhiều nguyên nhân như chế độ ăn uống, sinh hoạt, cơ địa thay đổi nội tiết tố,…
3. Vai trò glucose và chỉ số glucose của người bình thường là bao nhiêu?
Glucose (đường) là nguồn năng lượng chính nuôi cơ thể, được chuyển hóa từ các loại thực phẩm mà chúng ta ăn vào mỗi ngày. Trong máu của con người luôn có một lượng glucose nhất định để đảm bảo việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động hằng ngày; đặc biệt các cơ quan như não, tim, thận nguồn năng lượng chính để sử dụng cho hoạt động là glucose máu, các cơ quan “quý tộc” này rất nhạy cảm và tổn thương khi thiếu năng lượng glucose cung cấp. Giá trị đường huyết bình thường dao động ở các thời điểm có trị số khác nhau:
90 - 130mg/dl (5 - 7,2mmol/l) ở thời điểm trước bữa ăn;
Dưới 180mg/dl (10mmol/l) ở thời điểm sau ăn khoảng 1 - 2 tiếng;
100 - 150mg/dl (6 - 8,3mmol/l) ở thời điểm trước khi đi ngủ.
Đo trị số glucose của mình ở những khoảng thời gian này và đối chiếu với chỉ số trên để biết mình có mắc bệnh đái tháo đường hay không?

---- Hết phần 1, Còn tiếp-----
Nguồn:
https://www.baosoctrang.org.vn/.../7-3-dan-so-viet-nam...
https://pocaco.vn/thuc-trang-benh-tieu-duong-t841.html
https://medlatec.vn/.../%E2%80%8Bbenh-tieu-duong-la-gi...
https://www.mudaru.com/.../phan-loai-benh-tieu-duong-nhu...
https://www.vinmec.com/.../chi-so-glucose-trong-mau-o.../
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Chương 1: Phân tích Mục tiêu các Cannabinoid Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 1 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_1”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 1 này tập trung vào những thách thức và phương pháp phân tích mục tiêu các cannabinoid tổng hợp (SCs) trong máu và nước tiểu, một lĩnh vực phức tạp do sự đa dạng về cấu trúc hóa học và dược động học của SCs. Khác với các nhóm chất hướng thần mới (NPS) khác, SCs và chất chuyển hóa của chúng có tính chất hóa học biến đổi từ trung tính đến axit và có sự khác biệt giữa mẫu máu và nước tiểu, đòi hỏi các quy trình chiết xuất và phân tích chuyên biệt. LC-MS/MS là phương pháp phân tích mục tiêu phổ biến nhất do độ đặc hiệu, độ nhạy và tính linh hoạt cao, trong khi các phương pháp khác như GC-MS và xét nghiệm miễn dịch ít được sử dụng hơn. Quá trình phân tích bao gồm chuẩn bị mẫu (LLE, SPE hoặc kết tủa protein), định lượng với chất chuẩn, và phân tích dữ liệu sắc ký và khối phổ, trong đó việc hiểu rõ sự phân mảnh của các ion là rất quan trọng. Do đó, phân tích SCs đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hóa học, sinh học, và các kỹ thuật phân tích, đồng thời cần liên tục cập nhật kiến thức do sự thay đổi liên tục của các SCs.
Keywords: LC-MS/MS, HRMS, NPS, novel psychoactive substances, suspect screening, multi-targeted screening, wastewater, nước thải, Hàn Quốc.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp tóm tắt và thông tin lược dịch về việc phân tích và xác định các chất hướng thần mới (NPS) trong các mẫu nước từ 29 nhà máy xử lý nước thải tại Hàn Quốc theo nghiên cứu “Target and suspect screening of (new) psychoactive substances in South Korean wastewater by LC-HRMS, DOI: 10.1016/j.scitotenv.2023.162613”. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.