Trong phần trước chúng ta đã tìm hiểu về những lợi ích khi chuyển giao phương pháp từ HPLC sang UPLC, bạn đọc xem thêm tại đây:
Hôm nay, nhóm nghiên cứu tiếp tục theo dõi các thông số trong quá trình chạy máy để đánh giá mức độ ổn định của hệ thống UPLC khi phân tích thường quy với lượng mẫu lớn. Nền mẫu khảo sát vẫn là viên nén tránh thai có hoạt chất levonorgestrel và ethinyl estradiol, hệ thống Acquity H-Class UPLC và cột Waters Acquity UPLC BEH C8, 1,7 µm.
Theo dõi các thông số của hệ thống khi sử dụng 2 phương pháp HPLC và UPLC
Mẫu thử xử lý từ viên nén thành phẩm và chuẩn hỗn hợp được tiêm vào hệ thống sắc ký lỏng để mô phỏng việc sử dụng thường quy trong phòng kiểm nghiệm (QC) điển hình. 5 lần tiêm mẫu chuẩn lặp lại được thực hiện sau 20 lần tiêm mẫu thử và chu kỳ tiêm này được lặp lại liên tục cho đến khi các tiêu chí phù hợp của hệ thống không còn thỏa mãn. Áp suất hệ thống, diện tích pic, thời gian lưu và độ phân giải USP giữa hai pic (levonorgestrel và ethinyl estradiol) đã được theo dõi trong suốt nghiên cứu.
RSD của diện tích pic vẫn duy trì trong phạm vi 2,0% đối với mẫu chuẩn levonorgestrel và ethinyl estradiol, và độ phân giải USP vẫn cao hơn 2,5 trong suốt nghiên cứu, thỏa mãn các tiêu chí phù hợp hệ thống (Hình 1).

Hình 1. Biểu đồ xu hướng của các tiêu chí phù hợp hệ thống với 2200 mẫu tiêm lặp lại, sử dụng phương pháp chuyển giao từ chuyên luận USP.
Áp suất hệ thống tăng dần trong suốt thời gian chạy máy (Hình 2a), và tăng khoảng 36% từ 7200 psi lên 9800 psi trong 1000 mẫu tiêm đầu tiên. Xu hướng tăng áp suất khi sử dụng UPLC được so sánh với phương pháp gốc trong chuyên luận USP chạy trên hệ thống Alliance HPLC sử dụng cột Zorbax C8. Trên hệ thống HPLC (Hình 2b), áp suất ban đầu gần 1350 psi và tăng lên khoảng 2350 psi sau 1000 lần tiêm, tăng 74%.

Hình 2a. Biểu đồ xu hướng áp suất của hệ thống UPLC trong phân tích thường quy với cột Acquity UPLC BEH C8 (phương pháp chuyển giao từ chuyên luận USP).

Hình 2b. Biểu đồ xu hướng áp suất của hệ thống HPLC trong phân tích thường quy với cột Zorbax C8 (phương pháp gốc trong chuyên luận USP).
Cả phương pháp USP trên HPLC và phương pháp chuyển giao UPLC cho levonorgestrel và ethinyl estradiol đều cho thấy sự gia tăng áp suất chậm khi sử dụng các cột khác nhau và các hệ thống khác nhau. Vì lý do này, nguyên nhân của gia tăng áp suất là do mẫu, có thể là bởi khả năng hòa tan kém trong nước của các steroid và tá dược, trong khi pha động chỉ chứa khoảng 50% dung môi hữu cơ. Mặc dù mức tăng áp suất trên hệ thống Acquity H-Class UPLC là đáng kể, nhưng mức tăng tương đối thấp hơn nhiều so với hệ thống HPLC sử dụng cột Zorbax (36% và 74%).
Và mặc dù áp suất tăng trong suốt nghiên cứu nhưng đều nằm trong giới hạn áp suất hoạt động của thiết bị và tất cả các tiêu chí phù hợp của hệ thống đều được đáp ứng.
Việc đánh giá sử dụng thường quy trên hệ thống Acquity H-Class UPLC được dừng ở mức 2200 lần tiêm trong khi vẫn chưa nằm ngoài các tiêu chí phù hợp hệ thống, như trong bảng 1, thể hiện hiệu suất mạnh mẽ đối với levonorgestrel và ethinyl estradiol trên cột Acquity UPLC BEH C8, ngay cả khi tiêm trên 2000 mẫu liên tục.

Bảng 1. Các tiêu chí phù hợp của hệ thống trước và sau 2200 mẫu tiêm lặp lại trong phân tích thường quy, sử dụng phương pháp UPLC chuyển giao từ chuyên luận USP.
Tối ưu phương pháp
Mặc dù phương pháp UPLC đã đáp ứng các tiêu chí phù hợp hệ thống trong hơn 2000 lần tiêm, nhưng sau đó chúng tôi đã thử tối ưu phương pháp nhằm giảm bớt hiện tượng gia tăng áp suất theo thời gian, điều này được cho là do tích tụ mẫu trong khoang hạt nhồi.
Đánh giá sử dụng thường quy thứ hai đã được thực hiện trên một cột Acquity UPLC BEH C8 mới, lần này thêm một bước rửa cột gradient sau mỗi lần rửa giải. Sau 1,5 phút rửa giải đẳng dòng, một bước tăng gradient đến 100% acetonitril trong 0,3 phút được thêm vào, sau đó duy trì 100% acetonitril trong 1 phút (bước rửa) rồi cân bằng lại ở 100% pha động A. Việc thêm bước rửa cột kéo dài chu kỳ tiêm lên 4 phút (bao gồm cả cân bằng lại), nhưng giúp rửa trôi các chất kỵ nước trong mẫu và ngăn chúng tích tụ trên cột, do đó áp suất được ổn định trong suốt quá trình tiêm lặp đi lặp lại (Hình 2c).

Hình 2c. Biểu đồ xu hướng áp suất của hệ thống UPLC trong phân tích thường quy với cột Acquity UPLC BEH C8 (phương pháp chuyển giao từ chuyên luận USP, thêm bước rửa gradient).
Kết luận
Phương pháp trong chuyên luận USP cho viên nén tránh thai đã được chuyển thành công từ HPLC sang UPLC bằng việc sử dụng cột hạt nhồi bé và phần mềm Acquity UPLC Columns Calculator. Phương pháp UPLC nhanh hơn khoảng 85% so với HPLC và giúp tiết kiệm khoảng 92% dung môi tiêu thụ.
Mặc dù bước ly tâm mở rộng rất hữu ích cho chất lượng mẫu tiêm tốt hơn, nhưng nó không làm giảm hiện tượng tăng áp suất hệ thống cả với HPLC và UPLC trong phân tích thường quy. Việc kết hợp rửa gradient sau quá trình rửa giải đẳng dòng giúp giảm sự tích tụ mẫu trên cột, từ đó ổn định áp suất trong quá trình sử dụng thực tế.
Việc sử dụng thường quy phương pháp UPLC được đánh giá trên cột Acquity UPLC BEH C8, 1,7 µm. Sau 2200 lần tiêm, thử nghiệm vẫn vượt qua tất cả các tiêu chí phù hợp của hệ thống theo chuyên luận USP với viên nén levonorgestrel và ethinyl estradiol, chứng tỏ hiệu suất và sự ổn định của hệ thống hoàn toàn phù hợp để phân tích thường quy các công thức thuốc generic.
Ngọc Việt - Tổng hợp
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Chương 1: Phân tích Mục tiêu các Cannabinoid Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 1 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_1”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 1 này tập trung vào những thách thức và phương pháp phân tích mục tiêu các cannabinoid tổng hợp (SCs) trong máu và nước tiểu, một lĩnh vực phức tạp do sự đa dạng về cấu trúc hóa học và dược động học của SCs. Khác với các nhóm chất hướng thần mới (NPS) khác, SCs và chất chuyển hóa của chúng có tính chất hóa học biến đổi từ trung tính đến axit và có sự khác biệt giữa mẫu máu và nước tiểu, đòi hỏi các quy trình chiết xuất và phân tích chuyên biệt. LC-MS/MS là phương pháp phân tích mục tiêu phổ biến nhất do độ đặc hiệu, độ nhạy và tính linh hoạt cao, trong khi các phương pháp khác như GC-MS và xét nghiệm miễn dịch ít được sử dụng hơn. Quá trình phân tích bao gồm chuẩn bị mẫu (LLE, SPE hoặc kết tủa protein), định lượng với chất chuẩn, và phân tích dữ liệu sắc ký và khối phổ, trong đó việc hiểu rõ sự phân mảnh của các ion là rất quan trọng. Do đó, phân tích SCs đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hóa học, sinh học, và các kỹ thuật phân tích, đồng thời cần liên tục cập nhật kiến thức do sự thay đổi liên tục của các SCs.
Keywords: LC-MS/MS, HRMS, NPS, novel psychoactive substances, suspect screening, multi-targeted screening, wastewater, nước thải, Hàn Quốc.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp tóm tắt và thông tin lược dịch về việc phân tích và xác định các chất hướng thần mới (NPS) trong các mẫu nước từ 29 nhà máy xử lý nước thải tại Hàn Quốc theo nghiên cứu “Target and suspect screening of (new) psychoactive substances in South Korean wastewater by LC-HRMS, DOI: 10.1016/j.scitotenv.2023.162613”. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.