Keywords: QqQ, QTRAP, LC-MS/MS, Linear Ion Trap, khối phổ ba lần tứ cực, bẫy ion tuyến tính.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn đọc một số khái niệm cơ bản liên quan tới khối phổ ba tứ cực (Triple Quad) và bẫy ion tuyến tính (Linear Ion Trap – LIT) cũng như các thông tin cơ bản hệ thống khối phổ lai QqQ/LIT với tên gọi thương mại là QTRAP. Về tác giả, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.
QTRAP là công nghệ độc quyền của SCIEX dựa trên hệ thống khối phổ 3 tứ cực. QTRAP là hệ thống khối phổ lai độc đáo tới từ Sciex duy trì ưu điểm định lượng mạnh mẽ của hệ thống ba tứ cực (QqQ) trong khi tăng cường khả năng định tính với hệ thống bẫy ion tuyến tính. Một hệ thống QTRAP có thể vận hành như một máy khối phổ ba tứ cực thông thường với cùng độ nhạy và đầy đủ các chức năng ghi tín hiệu của QqQ như: Ghi phổ theo dõi đa phản ứng (MRM); Ghi phổ ion mẹ (Precursor Ion Scan); Ghi phổ ion con (Product Ion Scan); Ghi phổ neutral/gain loss; Theo dõi ion chọn lọc ở Q1/Q3 (Selected Ion Monitoring); Quét toàn bộ dải phổ (Full scan). Điểm làm hệ thống QTRAP độc đáo nằm ở chỗ Q3 được thiết kế và có thể vận hành như một bẫy ion tuyến tính (LIT) cung cấp thêm các tính năng quét định tính mạnh mẽ để tăng cường năng suất cũng như sự linh động cho người sử dụng (Hình 1).

Hình 1. Mô tả cấu tạo của bẫy ion tuyến tính trên các hệ QTRAP của Sciex, trong đó 2 điện cực được thêm vào ở phía trước và phía sau của Q3, cho phép đóng mở để bắt giữ và quét các ion ra khỏi bẫy.
Trong hệ thống QTRAP, bộ lọc khối thứ ba (Q3) có thể hoạt động như một bẫy ion tuyến tính (LIT). Điều này cho phép phát hiện đồng thời một hợp chất với các MRM chọn lọc và xác định dựa trên việc ghi phổ MS/MS tự động. Do thiết kế của tứ cực, khi hoạt động ở chế độ quét, cả thế DC (1 chiều) và AC (xoay chiều – drive RF frequency) áp lên tứ cực sẽ được tăng dần lên với các giá trị phù hợp và cho phép lần lượt các ion có cùng giá trị m/z được đi qua và tới detector. Việc này tương đồng với khi các ion có cùng giá trị m/z đang được ghi tín hiệu, tất cả các ion khác sẽ bị mất đi do va chạm vào các cực và/hoặc vào thành thiết bị. Như vậy, ở chế độ quét toàn dải, tại bất cứ 1 thời điểm nào QqQ sẽ bỏ phí phần lớn các ion được sỉnh ra từ nguồn bởi vì chỉ các ion thuộc 1 cửa số khối nhỏ mới có khả năng di chuyển theo quỹ đạo ổn định trên suốt chiều dài của thiết bị

Hình 2. Đường di chuyển của ion trong hệ QTRAP, vị trí các thấu kính IQ3 và EXB (Exit) trong LIT.
Khi Q3 hoạt động như LIT, các ion được truyền qua Q1 áp thế AC/DC, được phân giải và tăng tốc vào một buồng va chạm chỉ áp thế RF (thế AC với tần số sóng radio) tiêu chuẩn (Q2) duy trì áp suất khoảng 5 × 10-3 Torr N2. Các ion phân mảnh và ion mẹ còn lại sau đó được bắt giữ trong LIT với áp suất thấp hơn (khoảng 3 × 10-5 Torr). Việc sử dụng Q2 làm buồng va chạm thay vì để bắt giữ ion, đảm bảo rằng các ion đi vào LIT được làm mát (làm chậm lại) bằng va chạm, do đó tăng cường hiệu suất bắt giữ. LIT trên hệ QTRAP có thêm các thấu kính IQ3 và EXB lần lượt ở phía trước và sau của Q3. EXB đặt phía sau Q3 có dạng một lỗ mở được che bằng lưới (mesh-cover aperture) có đường kính 8 mm. Ngoài ra, một thấu kính lệch (deflector) có cùng đường kính đặt ở phía sau EXB
2.1. Thiết lập điện thế trong hệ QTRAP để bắt giữ ion

Hình 3. Trường điện bắt giữ ion được tối ưu thêm bằng cách sử dụng thêm 4 điện cực phụ trợ hình chữ T bố trí như trong hình. Điện cực phụ trợ nhỏ dần về phía cuối bẫy cho phép hình thành gradient điện trường giúp tăng hiệu suất bắt giữ và tăng tốc độ quét phổ.
Các ion được di chuyển với 1 tốc độ thấp về phía khu vực “extract region” (là khu vực gần cuối LIT nơi ion sẽ nhận được năng lượng kích thích và đi ra khỏi bẫy và tới detector) của LIT ở giai đoạn làm chậm ion bằng cách sử dụng một thế được áp lên “Trap collar” (Hình 3). Trường điện bắt giữ ion còn được tối ưu nhờ sử dụng 4 điện cực phụ trợ có dạng chữ T (Hình 3). Các điện cực phụ trợ dạng chữ T này, thu nhỏ dần theo hướng từ cửa vào bẫy tới cửa ra bẫy, cho phép hình thành gradient điện trường, và do đó tăng cường khả năng bắt giữ cũng như tốc độ quét
Một hàng rào thế được hình thành bằng cách nâng dần thế trên các điện cực phụ trợ ngay trước khi bắt đầu việc quét khối để hoàn tất quá trình tích luỹ ion. Hiệu quả của việc sử dụng trường điện dọc trục (axial field) cung cấp bởi các điện cực phụ trợ lên độ nhạy được thể hiện ở hình 4 (Hình 4). Thêm vào đó, dòng xoay chiều RF được áp lên EXB của LIT cũng cho phép tăng cường độ nhạy. Hai điểm mới này cho phép thu được độ phân giải tốt hơn “unit mass resolution” với các chế độ quét của LIT ở tốc độ quét rất cao.

Hình 4. Việc đặt thêm các điện phụ trợ, tăng cường độ nhạy cho các chế độ quét của QTRAP bằng cách di chuyển các ion đã bị bắt giữ vào khu vực “extraction region” trước khi bị đẩy theo trục ra khỏi bẫy. Hình bên trái, sử dụng điện cực phụ trợ để bắt giữ ion cho tín hiệu tốt nhất. Hình bên phải, 50% RF trên EXB cho tín hiệu cao nhất.
Hình 5 mô tả việc thiết lập điện thế để làm đầy, bắt giữ và quét ion của LIT (Hình 5). Đầu tiên, IQ2 và IQ3 được điều chỉnh để cho phép truyền một xung ion có độ dài biến đổi (5-1000 ms) qua buồng va chạm Q2 vào LIT (xung nạp – fill pulse). Đồng thời, thế DC áp lên EXB được giữ ở 100 V, để giữ cho ion không đi ra khỏi bẫy. Áp suất N2 trong Q2 được duy trì ở khoảng 5 × 10E-3 Torr. Vào cuối xung nạp, thế trên IQ2 và IQ3 được tăng lên để bẫy các ion trong LIT. Các ion bị bắt giữ sau đó được làm chậm trong khoảng 5 ms. Ngay trước khi quét khối, thế DC trên EXB được giảm xuống một giá trị đẩy nhất định, thế xoay chiều (drive RF) và thế xoay chiều phụ trợ (aux. AC) được tăng lên cho m/z đã chọn để đẩy ion ra khỏi LIT. Bằng cách kết hợp giữa chuyển động hướng tâm và dọc trục của ion trong các trường rìa ở phía cuối LIT, sự kích thích hướng tâm được chuyển thành động năng dọc trục, cho phép đẩy ion phụ thuộc vào khối lượng ra khỏi bẫy. Cuối cùng, LIT được làm rỗng bằng cách giảm đồng thời thế DC áp lên IQ3 và EXB và giảm thế xoay chiều áp lên các thanh điện cực ở Q2 và Q3

Hình 5. Mô tả thiết lập giá trị thế trong các khoảng thời gian xác định cho các thấu kính IQ2, IQ3, EXB, và điện thế xoay chiều và điện thế xoay chiều phụ trợ áp lên các thanh tứ cực của LIT.
2.3. Đẩy ion ra khỏi LIT theo phương dọc trục có chọn lọc khối
Sau khi ion được bắt giữ trong LIT, để có thể quét, ion cần được đẩy ra khỏi LIT một cách chọn lọc để tiến vào detector. Có 2 kỹ thuật để đẩy ion ra khỏi LIT là “mass-selective radial ejection - MSRE” (đẩy ion có chọn lọc khối theo phương xuyên tâm) và “mass-selective axial ejection – MSAE” (đẩy ion có chọn lọc khối theo phương dọc trục). Trong đó, MSRE xảy ra khi thế xoay chiều áp lên các thanh cực được tăng lên cùng với sự hiện diện đầy đủ (về cường độ) của thế xoay chiều phụ trợ, từ đó hình thành thế xoay chiều phụ trợ cộng hưởng đẩy (auxililary AC resonance-ejection voltage) theo phuơng xuyên tâm và các ion sẽ đi ra khỏi LIT qua các không gian trống giữa các thanh tứ cực
3. Tăng cường tín hiệu và độ phân giải khối với LIT

Hình 6. Độ phân giải khối của ion mẹ của reserpine ~ 6000 (tương đương FWHM ~ 0,1 Da) khi sử dụng tốc độ quét khôi 100 Da/giây và tần số AC phụ trợ 816 kHz với LIT.
Việc sử dụng bẫy ion tuyến tính cũng cho phép tuỳ chỉnh độ phân giải khối của thiết bị bằng cách thay đổi tốc độ quét ion ra khỏi bẫy sau khi bắt giữ. Ví dụ, phổ MS/MS của reserpine (100 pg/mL) ghi ở tốc độ quét khối 5200 Da/giây, có giá trị FWHM (độ rộng píc ở một nửa chiều cao cực đại) từ ~0,35 Da ở m/z 174 đến ~0,50 Da ở m/z 609. Khi giảm tốc độ quét xuống 1000 Da/giây, gía trị FWHM của píc dao động từ ~0,25 Da ở m/z 195 đến ~0,35 Da ở m/z 609. Độ phân giải khối cao hơn có thể đạt được bằng cách sử dụng tốc độ quét chậm hơn nữa. Hình 6 thể hiện phổ của ion reserpine m/z 609 ở tốc độ quét 100 Da/giây (Hình 6). Độ phân giải khối cho đồng vị chính (m/z 609) là ~6000 tương đượng với FWHM ~ 0,1 Da.

Hình 7. Phổ MS/MS của reserpine (100 pg/mL) đo bằng: (a) sử dụng bẫy ion tuyến tính với thời gian làm đầy bẫy là 50 mili-giây, và (b) sử dụng như QqQ thông thường. Trong mỗi trường hợp, Q1 được vận hành ở cùng độ phân giải “unit mass resolution”. Các khoảng thời gian thu nhận dữ liệu cho hai phổ đều giống nhau.

Hình 8. Phổ MS/MS của reserpine (100 pg/mL) trong khoảng m/z 250 – 330 đo bằng: (a) sử dụng bẫy ion tuyến tính với thời gian làm đầy bẫy là 50 mili-giây, và (b) sử dụng như QqQ thông thường. Trong mỗi trường hợp, Q1 được vận hành ở cùng độ phân giải “unit mass resolution”. Các khoảng thời gian thu nhận dữ liệu cho hai phổ đều giống nhau
Hình 7 hiển thị phổ MS/MS của cùng một dung dịch reserpine thu được giữa QTRAP và QqQ (Hình 7). Phổ MS/MS và cường độ tương đối của ion phân mảnh giữa hai phổ rất giống nhau do quá trình phá mảnh CID là giống nhau Tuy nhiên, cường độ ion phân mảnh ghi được khi sử dụng bẫy ion tuyến tính cho tín hiệu ≥ 16 lần so với khi sử dụng QqQ tiêu chuẩn. Độ phân giải khối và tỷ lệ tín hiệu/nhiễu thu được từ bẫy ion tuyến tính cũng vượt trội hơn so với QqQ (Hình 8).
4. Kết luận
LIT cho phép tăng cường độ nhạy của của các hệ thống như QTRAP 4500, 5500, 6500 và 6500+ lên hơn 100 lần. Trong đó, ion được bắt giữ theo phương xuyên tâm sử dụng trường điện tứ cực tần số RF và theo phương dọc trục bởi các thế DC tĩnh ở phía cuối của thanh tứ cực (khác với 3D ion trap, ion bị bắt giữ bởi trường điện tứ cực 3 chiều với tần số RF). Kết hợp với kĩ thuật đẩy ion dọc trục có chọn lọc khối, LIT cho phép tăng cường độ phân giải khối khi quét toàn dải phổ ở tốc độ thấp (chế độ ghi phổ tăng cường độ phân giải – Enhanced Resolution), cũng như ghi được phổ MS/MS của chất quan tâm với chất lượng cao với nhiều thông tin về phân mảnh cùng tín hiệu tốt (chế độ ghi phổ MS/MS tăng cường – EPI).
5. Tài liệu tham khảo
Besa, A. (n.d.). New Strategy for Easy, Sensitive and Selective Detection of THC Carboxylic Acid Direct from Hair Use of LC-MRM 3 on SCIEX QTRAP ® 5500 LC-MS/MS System.
Hager, J. W. (2002). A new linear ion trap mass spectrometer. Rapid Communications in Mass Spectrometry, 16(6), 512–526. https://doi.org/10.1002/rcm.607
Londry, F. A., & Hager, J. W. (2003). Mass selective axial ion ejection from a linear quadrupole ion trap. Journal of the American Society for Mass Spectrometry, 14(10), 1130–1147. https://doi.org/10.1016/S1044-0305(03)00446-X
Thăng Long Instruments © 2024. Mọi quyền được bảo lưu. Vui lòng ghi rõ nguồn khi sao chép.
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
GIỚI THIỆU
Sàng lọc ma túy thường được thực hiện để xác định xem đối tượng có sử dụng các chất bất hợp pháp hoặc có dùng thuốc điều trị hay không. Nhiều phòng thí nghiệm sử dụng xét nghiệm miễn dịch để tiến hành sàng lọc ma túy và các chất chuyển hóa trong mẫu sinh học. Tuy nhiên, xét nghiệm miễn dịch thường có độ đặc hiệu thấp và yêu cầu ủ với thuốc thử kháng thể. Hơn nữa, giá trị ngưỡng dương tính cao dẫn đến số lượng lớn kết quả âm tính giả.
Hệ thống Echo® MS+ với hệ thống ZenoTOF 7600 cung cấp một giải pháp thông lượng cao để sàng lọc các loại ma túy và chất chuyển hóa của chúng trong mẫu nước tiểu người với sự xác nhận bằng thư viện MS/MS. Trong nghiên cứu này, các mẫu nước tiểu được pha loãng 10 lần và được phân tích bằng phương pháp thu nhận phụ thuộc thông tin (IDA) với tốc độ 5 giây mỗi mẫu. Quy trình xử lý dữ liệu trong SCIEX OS bao gồm tìm kiếm thư viện MS/MS và lọc dữ liệu. Kết quả được xác nhận bằng cách sử dụng hệ thống M5 microflow được kết nối với hệ thống SCIEX 7500. Mẫu được pha loãng, đưa vào cột C18 và phân tích bằng phương pháp MRM.
Lời giới thiệu: TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Bài viết này trình bày một vài quan điểm cá nhân của tác giả và cung cấp 1 số khái niệm cơ bản liên quan tới việc xử lý mẫu máu trong phân tích độc học pháp y sử dụng kỹ thuật kết tủa protein nhằm đảm bảo độ chính xác, độ nhạy và tính tái lập. Mẫu máu pháp y, đặc biệt là từ tử thi, đặt ra nhiều thách thức do hiện tượng tái phân bố thuốc, phân hủy sinh học và nền mẫu sinh học phức tạp. Bài viết này trình bày tổng quan về các vấn đề thường gặp trong xử lý mẫu máu pháp y khi sử dụng kỹ thuật kết tủa protein như 1 kỹ thuật xử lý mẫu truyền thống, dễ triển khai và chi phí thấp, cũng như các lưu ý nhằm đảm bảo kết quả phân tích đáng tin cậy.
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 4 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_4”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 4 cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các phương pháp phân tích hiện tại cũng như quan điểm của tác giả liên quan tới việc phát hiện và định lượng các chất opioid tổng hợp mới (NSO) trong các mẫu sinh học như máu, huyết tương, huyết thanh và nước tiểu.
Chương 2: Phân tích Mục tiêu các Cathinone Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Tác giả: Elena Lendoiro và Ana de-Castro-Ríos
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 2 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_2”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 2 của cuốn sách này tập trung vào phân tích mục tiêu các cathinone tổng hợp trong máu và nước tiểu, những chất hướng thần mới hoạt động như chất kích thích hệ thần kinh trung ương. Chương này mô tả các phương pháp phân tích phổ biến, bao gồm làm sạch mẫu bằng kết tủa protein, chiết lỏng-lỏng và chiết pha rắn, cùng với phân tích bằng các thiết bị như LC-MS/MS và GC-MS. Các thách thức phân tích như xác định chất đối quang và độ ổn định của cathinone trong các điều kiện khác nhau cũng được thảo luận. Nghiên cứu cũng đề cập đến phạm vi nồng độ các chất này trong máu ở các trường hợp lâm sàng và pháp y thực tế.
Chương 1: Phân tích Mục tiêu các Cannabinoid Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 1 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_1”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 1 này tập trung vào những thách thức và phương pháp phân tích mục tiêu các cannabinoid tổng hợp (SCs) trong máu và nước tiểu, một lĩnh vực phức tạp do sự đa dạng về cấu trúc hóa học và dược động học của SCs. Khác với các nhóm chất hướng thần mới (NPS) khác, SCs và chất chuyển hóa của chúng có tính chất hóa học biến đổi từ trung tính đến axit và có sự khác biệt giữa mẫu máu và nước tiểu, đòi hỏi các quy trình chiết xuất và phân tích chuyên biệt. LC-MS/MS là phương pháp phân tích mục tiêu phổ biến nhất do độ đặc hiệu, độ nhạy và tính linh hoạt cao, trong khi các phương pháp khác như GC-MS và xét nghiệm miễn dịch ít được sử dụng hơn. Quá trình phân tích bao gồm chuẩn bị mẫu (LLE, SPE hoặc kết tủa protein), định lượng với chất chuẩn, và phân tích dữ liệu sắc ký và khối phổ, trong đó việc hiểu rõ sự phân mảnh của các ion là rất quan trọng. Do đó, phân tích SCs đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hóa học, sinh học, và các kỹ thuật phân tích, đồng thời cần liên tục cập nhật kiến thức do sự thay đổi liên tục của các SCs.
Keywords: LC-MS/MS, HRMS, NPS, novel psychoactive substances, suspect screening, multi-targeted screening, wastewater, nước thải, Hàn Quốc.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp tóm tắt và thông tin lược dịch về việc phân tích và xác định các chất hướng thần mới (NPS) trong các mẫu nước từ 29 nhà máy xử lý nước thải tại Hàn Quốc theo nghiên cứu “Target and suspect screening of (new) psychoactive substances in South Korean wastewater by LC-HRMS, DOI: 10.1016/j.scitotenv.2023.162613”. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.
Sự chuyển hóa của phenylfentanyl được nghiên cứu bằng cách sử dụng các dự đoán in silico với phần mềm GLORYx, các thí nghiệm ủ sử dụng tế bào gan người, và phân tích sắc ký lỏng kết hợp khối phổ phân giải cao (LC-HRMS/MS). Quy trình phân tích dữ liệu có mục tiêu và không mục tiêu được sử dụng để sàng lọc nhanh và tự-động-một-phần các dữ liệu thô từ LC-HRMS/MS. Khoảng 90.000 chất ban đầu được xác định sau 3 giờ ủ với tế bào gan, và 115 chất đã được chọn tự động để kiểm tra thủ công. Cuối cùng, 13 chất chuyển hóa, chủ yếu được tạo ra bởi quá trình N-dealkyl hóa, thủy phân amide, oxy hóa, và các kết hợp của chúng, đã được xác định. Phenylnorfentanyl được xác định là chất chỉ thị sinh học chính cho việc sử dụng phenylfentanyl. Các chất chuyển hóa chính khác bao gồm N-Phenyl-1-(2-phenylethyl)-4-piperidinamine (4-ANPP), 1-(2-phenylethyl)-4-piperidinol, và các chất chuyển hóa không đặc hiệu khác. Các biến đổi pha II rất hiếm, và việc thủy phân các mẫu sinh học không cần thiết để tăng khả năng phát hiện các chất chuyển hóa không liên hợp. Quy trình tổng thể này dễ dàng thích ứng cho việc lập hồ sơ chất chuyển hóa của các chất gây nghiện mới khác.
Sau đây là bản tóm tắt lược dịch từ bài báo gốc: “In silico prediction, LC-HRMS/MS analysis, and targeted/untargeted data-mining workflow for the profiling of phenylfentanyl in-vitro metabolites, DOI: 10.1016/j.talanta.2021.122740”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.