Trong kỹ thuật phân tích sắc ký, sắc ký lỏng khối phổ, việc thẩm định Phương pháp là điều bắt buộc. Công việc này tốn rất nhiều công sức, thời gian của người phân tích hoặc người phát triển Phương pháp, đôi khi kéo dài hằng tuần hoặc vài tuần do tính chất đòi hỏi về độ tái lập, bền vững của Phương pháp định lượng, từ đó ảnh hưởng tới giá trị của Phương pháp định lượng. Vậy câu hỏi đặt ra cho các bạn là: Điều nào là tiên quyết ảnh hưởng tới độ tái lặp, bền vững của Phương pháp đo?
Câu trả lời là: Hệ thống phân tích hay công cụ phân tích là yếu tố phải xét tới đầu tiên nếu muốn đánh giá độ tái lập, bền vững của Phương pháp đo.
Trong chuỗi bài viết công bố độ tái lập, bền vững đối với các hệ thống khối phổ của Waters, chúng tôi sẽ lần lượt công bố thông số này tới quý đọc giả.
- Hệ thống sắc ký lỏng siêu hiệu năng Acquity UPLC là hệ thống sắc ký lỏng đầu tiên trên thế giới chạy ở áp suất siêu cao, thể tích trễ hệ thống siêu nhỏ trên công nghệ hạt 1.7um, ở tốc độ dòng nhỏ, cho khả năng phân tách peak sắc ký nhanh hơn 10 lần so với với kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao – HPLC. Hệ thống được Waters giới thiệu năm 2004 và đăng ký bản quyền thuật ngữ siêu hiệu năng UPLC – Ultra Performance Liquid Chromatography.
- Hệ thống khối phổ ba lần tứ cực xevo TQD: thiết kế tối ưu cho việc phân tích định lượng hằng ngày. Ưu tiên dễ sử dụng, ít bảo dưỡng hoặc bảo dưỡng đơn giản bằng tay. Độ nhạy cao, ổn định, đáp ứng hầu hết cho các phòng thí nghiệm phân tích thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, dược chất trong dịch sinh học, môi trường với lượng mẫu hàng ngày lớn.
- Để đánh giá độ tái lặp, bền vững của hệ thống, Waters thực hiện 3400 mũi tiêm với mẫu huyết tương được spiked chuẩn verapamil.
- Phương pháp chuẩn bị mẫu: tủa protein bằng ACN và nước, tỉ lệ 2:1, sau đó ly tâm và lọc qua quang màng 0.22 um.
- Thông số cài đặt hệ thống:



Để nhận được bản tài liệu chi tiết, quý khách vui lòng liên hệ Thăng Long Instruments.
(Soạn dịch: Quý Lê)
Xem thêm: Video Giới thiệu Xevo TQD của hãng Waters
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Chương 1: Phân tích Mục tiêu các Cannabinoid Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 1 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_1”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 1 này tập trung vào những thách thức và phương pháp phân tích mục tiêu các cannabinoid tổng hợp (SCs) trong máu và nước tiểu, một lĩnh vực phức tạp do sự đa dạng về cấu trúc hóa học và dược động học của SCs. Khác với các nhóm chất hướng thần mới (NPS) khác, SCs và chất chuyển hóa của chúng có tính chất hóa học biến đổi từ trung tính đến axit và có sự khác biệt giữa mẫu máu và nước tiểu, đòi hỏi các quy trình chiết xuất và phân tích chuyên biệt. LC-MS/MS là phương pháp phân tích mục tiêu phổ biến nhất do độ đặc hiệu, độ nhạy và tính linh hoạt cao, trong khi các phương pháp khác như GC-MS và xét nghiệm miễn dịch ít được sử dụng hơn. Quá trình phân tích bao gồm chuẩn bị mẫu (LLE, SPE hoặc kết tủa protein), định lượng với chất chuẩn, và phân tích dữ liệu sắc ký và khối phổ, trong đó việc hiểu rõ sự phân mảnh của các ion là rất quan trọng. Do đó, phân tích SCs đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hóa học, sinh học, và các kỹ thuật phân tích, đồng thời cần liên tục cập nhật kiến thức do sự thay đổi liên tục của các SCs.
Keywords: LC-MS/MS, HRMS, NPS, novel psychoactive substances, suspect screening, multi-targeted screening, wastewater, nước thải, Hàn Quốc.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp tóm tắt và thông tin lược dịch về việc phân tích và xác định các chất hướng thần mới (NPS) trong các mẫu nước từ 29 nhà máy xử lý nước thải tại Hàn Quốc theo nghiên cứu “Target and suspect screening of (new) psychoactive substances in South Korean wastewater by LC-HRMS, DOI: 10.1016/j.scitotenv.2023.162613”. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.