Một nhóm nghiên cứu ở Khoa vật liệu của viện ETH Zurich (Thụy Sỹ) sử dụng giãn nở kế quang học Optical Dilatometer DIL 806 của TA Instrument đã thành công trong việc công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Nature Communications tháng 12 năm 2016.
Lấy ý tưởng về khả năng tự thay đổi hình dạng của thực vật trước các yếu tố của môi trường như nhiệt độ hay độ ẩm, nhóm nghiên cứu trên đã thành công trong việc tìm ra vật liệu gốm ceramic có khả năng tự định hình trong quá trình thiêu kết (sintering) ở nhiệt độ cao. Chúng ta có thể lấy vảy của quả thông để làm ví dụ minh họa: mặc dù 2 lớp vảy được làm từ cùng loại vật liệu, nhưng chúng giãn nở khác nhau dưới tác động của độ ẩm để xòe ra hay khép lại đáp ứng theo tình hình thời tiết.
Thông thường, việc tạo ra gốm với các hình dạng phức tạp đòi hỏi những kỹ thuật chế tạo từ trên xuống (top-down fabriacation) chẳng hạn như ép phun, đông tụ tại chỗ hoặc keo hóa, gia công các hợp chất bột ép, hoặc kỹ thuật sản xuất phụ gia. Trong khi đó, nghiên cứu này chỉ ra cách lập trình vi cấu trúc của vật liệu để gốm tự tạo nên hình dạng bằng cách dãn nở nhiệt không đồng đều trong quá trình xử lý nhiệt. Các nhà nghiên cứu đã có thể kiểm soát hoàn toàn sự thay đổi hình dạng của vật liệu trong quá trình thiêu kết để tạo ra các cấu trúc gập cong, xoắn hay tổ hợp của các cấu trúc trên để tạo nên hàng loạt các cấu trúc phức tạp (Hình 1). Sự đơn giản cũng như khả năng áp dụng rộng rãi của kỹ thuật này cho phép chế tạo gốm giá thành thấp với những hình dạng độc đáo cùng khả năng chống chịu nhiệt tốt.

Hình 1. Thiết kế và quy trình sản xuất vi cấu trúc 2 tầng để định hình vật liệu gốm trong quá trình thiêu kết. Tùy theo vi cấu trúc của từng tầng mà có thể tạo nên hình dạng gập công (a) hoặc xoắn (b). (c) là sơ đồ quy trình sản xuất vật liệu gốm tự đình hình. (d) là minh họa cho phương pháp được sử dụng để định hướng vi cấu trúc sử dụng từ trường. (e) Sự tăng pH hình thành do phản ứng được xúc tác bởi urease được sử dụng để cố định vi cấu trúc sau khi được định hướng trong từ trường. (Hình ảnh được sao chép và lược dịch theo Bargardi, F. Et al, 2016)
.jpg)
Hình 2. Thay đổi hình dạng của gốm 2 tầng với độ dày được thay đổi. (a) Tầng gốm đơn với khả năng giãn nở nhiệt không dồng đều trong quá trình thiêu kết.(b) Thiêu kết tạo cấu trúc gập cong 2 tầng, độ cong giảm theo cấp độ lũy thừa khi độ dày được tăng lên. (c) Thiêu kết tạo cấu trúc xoắn 2 tầng, bán kính và biên đọ xoắn cũng thay đổi theo độ dày. (Hình ảnh được sao chép và lược dịch theo Bargardi, F. Et al, 2016)
Thiết bị giãn nở kế quang học DIL 806 của TA Instruments đã đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả nghiên cứu này. Sử dụng tính năng phân tích quá trình thiêu kết của DIL 806 (Hình 2), các nhà khoa học đã tìm ra cách lập trình nên những cấu trúc gập cong và xoắn bằng cách định hướng của vi cấu trúc và thay đổi độ dày của vật liệu. Không chỉ vậy, họ còn có thể lập trình để tạo nên những cấu trúc gập cong và xoắn phức tạp (Hình 3).

Hình 3. Lập trình vật liệu tự định dạng là phương pháp có thể thiết kế những cấu trucjsg gốm phức tạp. (Hình ảnh được sao chép và lược dịch theo Bargardi, F. Et al, 2016)
Khác với các loại giãn nở kế thông thường, giãn nở kế quang học DIL 806 của TA Instruments sử dụng phương pháp quang học để cho phép nghiên cứu sự giãn nở của vật liệu mà không cần phải trực tiếp tiếp xúc với mẫu nên phương pháp này tránh được sai số phát sinh do sự giãn nở nhiệt của chính thiết bị, đồng thời không cần phải hiệu chỉnh (calibration) lại thiết bị cho từng chương trình nhiệt khác nhau. Mang bằng phát minh sáng chế độc quyền của Mỹ (US Patent No. 7524105), phương pháp này còn đặc biệt thích hợp với các các vật liệu tạo nên hình dạng bất thường hoặc các vật liệu mềm. Nhờ vào sự linh thoạt thích ứng với nhiều loại mẫu khác nhau, cùng với kết quả đo tuyệt đối, cùng với thiết kế buồng đốt động đảm bảo độ đồng đều và chính xác của chương trình nhiệt, DIL 806 của TA Instruments được được các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới về khoa học vật liệu tin dùng.
Bài việt dựa trên bài báo gốc của tạp chí Nature Communications:
Bargardi, F., Le Ferrand, H., Libanori, R. et al. Bio-inspired self-shaping ceramics. Nat Commun 7, 13912 (2016)
https://doi.org/10.1038/ncomms13912
Vũ Sỹ
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Sự ngưng tụ hơi nước trong các cấu trúc hình học bị giới hạn, hay còn gọi là sự ngưng tụ mao dẫn, là một hiện tượng cơ bản với những hệ quả sâu rộng. Mặc dù các lỗ ưa nước cho phép hình thành chất lỏng từ hơi chưa bão hòa mà không cần cung cấp năng lượng, chất ngưng tụ thường bị kẹt lại trong các cấu trúc này, làm hạn chế tính ứng dụng thực tiễn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát việc sử dụng các màng hạt nano thâm nhập polyme có cấu trúc lỗ nano lưỡng tính (nanoporous polymer- infiltrated nanoparticle films), có khả năng ngưng tụ và giải phóng nước lỏng trong điều kiện đẳng nhiệt và chưa bão hòa. Bằng cách điều chỉnh tỷ lệ polyme và kích thước hạt nano, chúng tôi tối ưu hóa quá trình ngưng tụ và hình thành giọt nước. Khi áp suất hơi tăng, các khoảng trống được lấp đầy bởi chất ngưng tụ, sau đó chúng tiết ra bề mặt dưới dạng các giọt nước vi kích thước micro. Hiện tượng này hình thành từ sự cân bằng giữa tính kỵ nước của polyme và tính mao dẫn, cho thấy cách thức các cấu trúc nano lưỡng tính có thể thúc đẩy quá trình thu hồi nước khả thi. Những phát hiện của chúng tôi cung cấp các định hướng thiết kế cho những loại vật liệu hỗ trợ thu nước tiết kiệm năng lượng và quản lý nhiệt mà không cần nguồn năng lượng từ bên ngoài.
Tóm tắt
Màng silica vật liệu mao quản trung bình đã được ứng dụng rộng rãi trong việc chế tạo các vật liệu chức năng tiên tiến, chẳng hạn như các lớp phủ chống phản xạ, các thiết bị cảm biến sinh học và hóa học, do các tính chất ddặc thù của chúng, ví dụ, diện tích bề mặt lớn, độ xốp có thể kiểm soát, và quy trình tổng hợp dễ dàng, có thể điều chỉnh linh hoạt. Việc hiểu biết chính xác về cấu trúc lỗ rỗng của chúng là vô cùng quan trọng, điều này nhấn mạnh nhu cầu về các công cụ xác định đặc tính chính xác. Xét về khía cạnh này, phương pháp đo độ xốp bằng Ellipsometric Porosimetry – EP đại diện cho một nền tảng phân tích mạnh mẽ và đa năng, cho phép thu thập những thông tin đáng tin cậy về: tổng độ xốp, kích thước lỗ rỗng, độ phân tán kích thước lỗ rỗng, các đặc tính cơ học (mô-đun Young) và diện tích bề mặt của nhiều loại màng mỏng vật liệu mao quản trung bình khác nhau.
Mặc dù khung lý thuyết về mô hình hóa sự ngưng tụ mao dẫn thông qua phương trình Kelvin đã được thiết lập vững chắc, nhưng một tham số mô tả là tính thấm ướt bên trong của các cấu trúc vật liệu mao quản trung bình vẫn là một biến số đầy thách thức đối với việc xác định đặc tính vật liệu một cách đáng tin cậy. Sự thấm ướt ở quy mô nano không thể quan sát được bằng phương pháp soi hình dạng giọt nước truyền thống, trong khi việc ước tính tính thấm ướt bên trong dựa trên các đặc tính vĩ mô (bề mặt bên ngoài) có thể thiếu chính xác, vì hai hành vi thấm ướt này không nhất thiết phải tương quan với nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một phương pháp dựa trên kỹ thuật đo độ xốp Vacuum Ellipsometric Porosimetry để xác định góc tiếp xúc bên trong của các màng mỏng silica vật liệu mao quản trung bình đã được biến tính nhóm chức. Việc điều chỉnh năng lượng bề mặt của một cấu trúc vật liệu mao quản trung bình bằng cách methyl hóa đã cho phép chúng tôi liên kết sự khác biệt trong quá trình lấp đầy lỗ rỗng của các chất hấp phụ khác nhau (nước, methanol, toluene, cyclohexane) với góc tiếp xúc bên trong của chúng. Nghiên cứu của chúng tôi đóng vai trò như một hướng dẫn tổng quát để xác định góc tiếp xúc bên trong, phù hợp cho nhiều loại chất hấp phụ hữu cơ và vật liệu hấp phụ vật liệu mao quản trung bình.
Điện trở tấm, độ linh động (mobility) và mật độ điện tích tấm là những chỉ tiêu kiểm soát chất lượng quan trọng giúp tăng hiệu suất sản xuất wafer bán dẫn phức hợp. Tuy nhiên, các phương pháp đo truyền thống – sử dụng đầu dò bốn điểm để đo điện trở tấm, hoặc phép đo Hall để xác định độ linh động và mật độ điện tích – đều là các phương pháp phá hủy, không phù hợp cho môi trường sản xuất thông lượng lớn.
Bài trình bày này sẽ giới thiệu các cải tiến mới nhất trong hệ thống đo điện trở tấm của SEMILAB, nay đã có khả năng xử lý wafer tự động với tất cả các kích thước wafer bán dẫn phức hợp, bao gồm cả GaN và SiC 2–3 inch. SEMILAB cũng sẽ giới thiệu thiết bị mới để đo độ linh động không tiếp xúc ở nhiệt độ phòng. Các ứng dụng trong kiểm soát quy trình sẽ được trình bày.
Tiêu chuẩn cấp nước phòng thí nghiệm xác định các loại nước khác nhau trong phòng thí nghiệm dựa trên các lý do về kỹ thuật và kinh tế. Mục đích của các tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng nước phù hợp được sử dụng cho một ứng dụng cụ thể, đồng thời hạn chế chi phí vận hành phòng thí nghiệm – Sản xuất nước Loại 1 đắt hơn nước Loại 2 hoặc Loại 3.