Các nhóm nghiên cứu của Đại học bang Pennsylvania (Hoa Kỳ) hợp tác với Đại học Công nghệ Chemnitz (Đức) bang California (Hoa Kỳ) sử dụng lưu biến kế ARES-G2 của TA Instruments vừa thành công trong việc công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Nature Communications (chỉ số ảnh hướng IF=11.88) số tháng 2 năm 2020.
Nghiên cứu được công bố có tiêu đề là “Mối liên hệ giữa nhiệt độ chuyển tiếp thủy tinh và cấu trúc hóa học của các polymer liên hợp”.
Nghiên cứu này giúp chúng ta có một phương pháp tuyệt vời để dự đoán tương đối chính xác nhiệt độ chuyển tiếp thủy tinh (Tg) của một nhóm các loại polymer dựa trên cấu trúc hóa học của polymer đó.
Giáo sư Enrique Gomez (tác giả chịu trách nhiệm liên hệ của bài báo) cho hay: “Các nghiên cứu trước đó muốn dự đoán nhiệt độ Tg của polymer đều sử dụng các mô hình tính toán phức tạp với nhiều tham số mà chỉ có thể đưa ra kết quả với độ chính xác không cao”. Trước đó đã từng có nghiên cứu sử dụng mô hình tính toán phải sử dụng tới tận 69 tham số để có thể dự đoán Tg với sai số trung bình khoảng 24oC.

Các nhóm nghiên cứu của Đại học bang Pennsylvania (Hoa Kỳ) hợp tác với Đại học Công nghệ Chemnitz (Đức) bang California (Hoa Kỳ) sử dụng lưu biến kế ARES-G2 của TA Instruments vừa thành công trong việc công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Nature Communications (chỉ số ảnh hướng IF=11.88) số tháng 2 năm 2020.
Nghiên cứu được công bố có tiêu đề là “Mối liên hệ giữa nhiệt độ chuyển tiếp thủy tinh và cấu trúc hóa học của các polymer liên hợp”.
Nghiên cứu này giúp chúng ta có một phương pháp tuyệt vời để dự đoán tương đối chính xác nhiệt độ chuyển tiếp thủy tinh (Tg) của một nhóm các loại polymer dựa trên cấu trúc hóa học của polymer đó.
Giáo sư Enrique Gomez (tác giả chịu trách nhiệm liên hệ của bài báo) cho hay: “Các nghiên cứu trước đó muốn dự đoán nhiệt độ Tg của polymer đều sử dụng các mô hình tính toán phức tạp với nhiều tham số mà chỉ có thể đưa ra kết quả với độ chính xác không cao”. Trước đó đã từng có nghiên cứu sử dụng mô hình tính toán phải sử dụng tới tận 69 tham số để có thể dự đoán Tg với sai số trung bình khoảng 24oC.
.png)
Hình 1. Công thức cấu tạo của các polymer được sử dụng trong nghiên cứu này (hình ảnh được sao chép và sửa đổi dựa theo Renxuan Xie et al., 2020).
Hình 2. Dự đoán nhiệt độ chuyển tiếp thủy tinh dựa trên giá trị di động hiệu quả. (a) Tương quan tuyến tính giữa Tg thực nghiệm và giá trị di động hiệu quả. Đường liền nét là đường hồi quy tuyến tính cùng với phương trình và hệ số R^2 tương ứng, 2 đường đứt là khoảng dự đoán với độ tin cậy 95%. Nhóm 1 (màu đỏ) là các polymer có mạch chính chứa nhiều thiophene, nhóm 2 (màu xanh) là các polymer có mạch chính chứa nhiều phenyl. (b) So sánh giá trị Tg thực nghiệm và giá trị được dự đoán từ phương trình hồi quy tuyến tính thu được kết quả sai số trung bình RMSE = 13oC. (hình ảnh được sao chép và sửa đổi dựa theo Renxuan Xie et al., 2020).
.png)
ARES-G2 của TA Instruments là lưu biến kế tiên tiến nhất dành cho nghiên cứu và phát triển vật liệu. ARES-G2 là lưu biến kế duy nhất trên thị trường có thiết kế chuyên biệt để kiểm soát biến dạng mẫu. Công nghệ đầu dò tái cân bằng lực và đầu dò tái cân bằng mô-men xoắn giúp đo lường ứng suất cắt và ứng suất pháp một cách độc lập với nhau. Do đó, cộng đồng về lưu biến học xem ARES-G2 như “tiêu chuẩn vàng” mà các lưu biến kế khác trong công nghiệp dùng để so sánh về độ chính xác.
Cấu hình ARES-G2 có các tính năng ưu việt sau:
- Kết quả chính xác không gì sánh kịp
- Khả năng kiểm soát biến dạng tuyệt vời cùng với khả năng kiếm soát ứng suất tốt.
- Tích hợp khả năng lấy mẫu nhanh.
- Bộ phận điện tử tách rời.
- Hệ thống môi trường Smart SwapTM.
- Bộ kiểm soát nhiệt độ chủ động được cấp bằng sáng chế.
- Các phụ kiện đầy đủ, đáp ứng mọi nhu cầu của người sử dụng.
- Sử dụng phần mềm chuyên dụng TRIOS đủ các tính năng test linh hoạt.
- Có các kỹ thuật biến dạng dao động biên độ lớn (LAOS), biến đổi Fourrier, chồng chất trực giao (OSP), biến dạng dao động biên độ nhỏ 2 chiều (2D-SAOS).
- Có thể thực hiện phân tích cơ động học (DMA) để đo lường tính gập, kéo, nén của chất rắn.
Một số thông số kỹ thuật của lưu biến kế ARES-G2:
.png)
Bài viết dựa trên bài báo gốc của tạp chí “Nature Communications”:
Xie, R., Weisen, A.R., Lee, Y. et al. Glass transition temperature from the chemical structure of conjugated polymers. Nat Commun 11, 893.
https://doi.org/10.1038/s41467-020-14656-8
Vũ Sỹ
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Sự ngưng tụ hơi nước trong các cấu trúc hình học bị giới hạn, hay còn gọi là sự ngưng tụ mao dẫn, là một hiện tượng cơ bản với những hệ quả sâu rộng. Mặc dù các lỗ ưa nước cho phép hình thành chất lỏng từ hơi chưa bão hòa mà không cần cung cấp năng lượng, chất ngưng tụ thường bị kẹt lại trong các cấu trúc này, làm hạn chế tính ứng dụng thực tiễn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát việc sử dụng các màng hạt nano thâm nhập polyme có cấu trúc lỗ nano lưỡng tính (nanoporous polymer- infiltrated nanoparticle films), có khả năng ngưng tụ và giải phóng nước lỏng trong điều kiện đẳng nhiệt và chưa bão hòa. Bằng cách điều chỉnh tỷ lệ polyme và kích thước hạt nano, chúng tôi tối ưu hóa quá trình ngưng tụ và hình thành giọt nước. Khi áp suất hơi tăng, các khoảng trống được lấp đầy bởi chất ngưng tụ, sau đó chúng tiết ra bề mặt dưới dạng các giọt nước vi kích thước micro. Hiện tượng này hình thành từ sự cân bằng giữa tính kỵ nước của polyme và tính mao dẫn, cho thấy cách thức các cấu trúc nano lưỡng tính có thể thúc đẩy quá trình thu hồi nước khả thi. Những phát hiện của chúng tôi cung cấp các định hướng thiết kế cho những loại vật liệu hỗ trợ thu nước tiết kiệm năng lượng và quản lý nhiệt mà không cần nguồn năng lượng từ bên ngoài.
Tóm tắt
Màng silica vật liệu mao quản trung bình đã được ứng dụng rộng rãi trong việc chế tạo các vật liệu chức năng tiên tiến, chẳng hạn như các lớp phủ chống phản xạ, các thiết bị cảm biến sinh học và hóa học, do các tính chất ddặc thù của chúng, ví dụ, diện tích bề mặt lớn, độ xốp có thể kiểm soát, và quy trình tổng hợp dễ dàng, có thể điều chỉnh linh hoạt. Việc hiểu biết chính xác về cấu trúc lỗ rỗng của chúng là vô cùng quan trọng, điều này nhấn mạnh nhu cầu về các công cụ xác định đặc tính chính xác. Xét về khía cạnh này, phương pháp đo độ xốp bằng Ellipsometric Porosimetry – EP đại diện cho một nền tảng phân tích mạnh mẽ và đa năng, cho phép thu thập những thông tin đáng tin cậy về: tổng độ xốp, kích thước lỗ rỗng, độ phân tán kích thước lỗ rỗng, các đặc tính cơ học (mô-đun Young) và diện tích bề mặt của nhiều loại màng mỏng vật liệu mao quản trung bình khác nhau.
Mặc dù khung lý thuyết về mô hình hóa sự ngưng tụ mao dẫn thông qua phương trình Kelvin đã được thiết lập vững chắc, nhưng một tham số mô tả là tính thấm ướt bên trong của các cấu trúc vật liệu mao quản trung bình vẫn là một biến số đầy thách thức đối với việc xác định đặc tính vật liệu một cách đáng tin cậy. Sự thấm ướt ở quy mô nano không thể quan sát được bằng phương pháp soi hình dạng giọt nước truyền thống, trong khi việc ước tính tính thấm ướt bên trong dựa trên các đặc tính vĩ mô (bề mặt bên ngoài) có thể thiếu chính xác, vì hai hành vi thấm ướt này không nhất thiết phải tương quan với nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày một phương pháp dựa trên kỹ thuật đo độ xốp Vacuum Ellipsometric Porosimetry để xác định góc tiếp xúc bên trong của các màng mỏng silica vật liệu mao quản trung bình đã được biến tính nhóm chức. Việc điều chỉnh năng lượng bề mặt của một cấu trúc vật liệu mao quản trung bình bằng cách methyl hóa đã cho phép chúng tôi liên kết sự khác biệt trong quá trình lấp đầy lỗ rỗng của các chất hấp phụ khác nhau (nước, methanol, toluene, cyclohexane) với góc tiếp xúc bên trong của chúng. Nghiên cứu của chúng tôi đóng vai trò như một hướng dẫn tổng quát để xác định góc tiếp xúc bên trong, phù hợp cho nhiều loại chất hấp phụ hữu cơ và vật liệu hấp phụ vật liệu mao quản trung bình.
Điện trở tấm, độ linh động (mobility) và mật độ điện tích tấm là những chỉ tiêu kiểm soát chất lượng quan trọng giúp tăng hiệu suất sản xuất wafer bán dẫn phức hợp. Tuy nhiên, các phương pháp đo truyền thống – sử dụng đầu dò bốn điểm để đo điện trở tấm, hoặc phép đo Hall để xác định độ linh động và mật độ điện tích – đều là các phương pháp phá hủy, không phù hợp cho môi trường sản xuất thông lượng lớn.
Bài trình bày này sẽ giới thiệu các cải tiến mới nhất trong hệ thống đo điện trở tấm của SEMILAB, nay đã có khả năng xử lý wafer tự động với tất cả các kích thước wafer bán dẫn phức hợp, bao gồm cả GaN và SiC 2–3 inch. SEMILAB cũng sẽ giới thiệu thiết bị mới để đo độ linh động không tiếp xúc ở nhiệt độ phòng. Các ứng dụng trong kiểm soát quy trình sẽ được trình bày.
Tiêu chuẩn cấp nước phòng thí nghiệm xác định các loại nước khác nhau trong phòng thí nghiệm dựa trên các lý do về kỹ thuật và kinh tế. Mục đích của các tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng nước phù hợp được sử dụng cho một ứng dụng cụ thể, đồng thời hạn chế chi phí vận hành phòng thí nghiệm – Sản xuất nước Loại 1 đắt hơn nước Loại 2 hoặc Loại 3.