Giới thiệu: Bài viết này có sử dụng nhiều nội dung trong nghiên cứu cùng tên của nhóm tác giả Emma L. Jaunay thuộc đại học Clinical and Health Sciences, University of South Australia, Úc. Cung cấp cho bạn đọc phương pháp phân tích định tính và định lượng các NPS, cũng như tình trạng sử dụng NPS tại Úc. Về tác giả, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492
Link bài nghiên cứu: https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2024.170473
Bài viết này có sử dụng nhiều nội dung trong bài chia sẻ của chuyên gia Kimberly Karin thuộc cục hàng không liên bang hoa kỳ (FAA). Cung cấp cho bạn đọc một vài khái niệm cơ bản về cần sa và tình trạng sử dụng cần sa tại Mỹ, cũng như các khó khăn mà người sử dụng và các cơ quan kiểm soát chất lượng tại Mỹ gặp phải. Bài viết cũng trình bày quan điểm của tác giả liên quan tới việc phân tích cần sa.
Tiêu chuẩn cấp nước phòng thí nghiệm xác định các loại nước khác nhau trong phòng thí nghiệm dựa trên các lý do về kỹ thuật và kinh tế. Mục đích của các tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng nước phù hợp được sử dụng cho một ứng dụng cụ thể, đồng thời hạn chế chi phí vận hành phòng thí nghiệm – Sản xuất nước Loại 1 đắt hơn nước Loại 2 hoặc Loại 3.
Bài viết này có sử dụng nhiều nội dung trong ghi chú ứng dụng “Expanding NPS screening capabilities in the forensic toxicology laboratory Screen for over 900 compounds using the vMethod application on the SCIEX X500R QTOF system”. Thêm vào đó cung cấp cho bạn đọc một số khái niệm cơ bản liên quan tới khối phổ thời gian bay (Time of Flight), và trình bày quan điểm của tác giả liên quan tới việc sàng lọc và định danh tin cậy các chất liên quan trong nền mẫu sinh học gồm mẫu máu và mẫu nước tiểu. Về tác giả, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492
Việc giảm kích thước hạt pha tĩnh hoặc tăng chiều dài cột sắc ký là những biện pháp thường được sử dụng để tăng số đĩa lý thuyết của cột. Tuy nhiên, nhược điểm của hai cách làm này là nó làm tăng áp suất qua cột, đôi khi thậm chí vượt quá khả năng chịu áp của hệ thống. . Có một cách đơn giản hơn, đó là thay đổi độ xốp của hạt pha tĩnh bằng cách sử dụng các hạt pha tĩnh có cấu trúc coreshell.
Thông thường, khi so sánh cấu hình giữa các thiết bị LC/MS với nhau, người sử dụng thường so sánh độ nhạy của máy theo hai giá trị là độ nhạy của thiết bị tính theo S/N (signal to noise hay tín hiệu trên nhiễu) và giá trị giới hạn phát hiện của thiết bị (Instrument detection limit).
Cả hai giá trị này đều sử dụng tín hiệu của Reserpine cho mode dương và Chloramphenicol cho mode âm. Vậy hai giá trị trên được tín như thế nào và giá trị nào thì tốt hơn cho khách hàng tham khảo?
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp