Đang tải...

message Email zalo

Các xét nghiệm được sử dụng trên các mẫu sinh thiết và tế bào học để chẩn đoán ung thư

26 Tháng 08, 2021

Loại ung thư và mức độ ung thư thường được chẩn đoán rõ ràng khi các tế bào được nhìn dưới kính hiển vi sau khi xử lý và nhuộm màu thông thường. Tuy nhiên việc làm này không phải lúc nào cũng cho kết quả đúng. Vì thế các nhà giải phẫu bệnh cần sử dụng các xét nghiệm khác để có thể chẩn đoán chính xác hơn như sử dụng mẫu sinh thiết và tế bào học.

1. Nhuộm mô hoá học

Các xét nghiệm này sử dụng thuốc nhuộm hoá học khác nhau được hút bởi một số chất được tìm thấy trong các loại tế bào ung thư. Ví dụ, thuốc nhuộm chất nhầy bị hút bởi dịch nhầy. Những giọt chất nhầy bên trong một tế bào tiếp xúc với thuốc nhuộm sẽ có màu đỏ hồng dưới kính hiển vi. Thuốc nhuộm này sẽ rất hữu ích nếu nhà nghiên cứu bệnh học nghi ngờ một tế bào có chứa ung thư. Chẳng hạn như, ung thư biểu mô tuyến - là một loại ung thư tuyến trong sinh thiết phổi. Những bướu biểu mô ác tính có thể tạo ra chất nhầy, vì vậy việc tìm thấy các đốm đỏ hồng trong các tế bào ung thư phổi sẽ là kết quả để bác sĩ giải phẫu bệnh chẩn đoán đó là ung thư biểu mô tuyến.

Bên cạnh những lợi ích của việc phân loại các loại khối u khác nhau, các loại thuốc nhuộm đặc biệt khác cũng được sử dụng trong phòng thí nghiệm để xác định vi sinh vật (vi trùng) như vi khuẩn và nấm trong các mô. Điều này rất quan trọng vì những người mắc bệnh ung thư có thể bị nhiễm trùng như là một tác dụng phụ của quá trình điều trị, hoặc thậm chí có thể là do chính ung thư gây nên. Nó cũng rất quan trọng trong chẩn đoán ung thư vì một số bệnh truyền nhiễm gây ra và hình thành các khối u. Những khối u này có thể bị nhầm lẫn với ung thư. Để xác định chính xác xem đây là khối u ung thư hay nhiễm trùng thì rất cần nhuộm màu tế bào để kiểm tra.

Nhuộm mô hoá học giúp chẩn đoán ung thư vì một số bệnh truyền nhiễm gây ra và hình thành các khối u

2. Nhuộm hóa mô miễn dịch

Hoá mô miễn dịch hay nhuộm hóa mô miễn dịch là loại xét nghiệm đặc biệt có rất hữu dụng. Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là một protein miễn dịch gọi là kháng thể sẽ tự gắn vào một số chất nhầy nhất định được gọi là kháng nguyên có ở trên hoặc trong tế bào. Mỗi loại kháng thể nhận ra và gắn vào các kháng nguyên phù hợp với nó một cách chính xác. Một số loại tế bào bình thường và tế bào ung thư thường có kháng nguyên đặc biệt. Nếu tế bào có một kháng nguyên cụ thể, chúng sẽ thu hút kháng thể phù hợp với kháng nguyên đó. Để tìm hiểu xem kháng thể đã bị thu hút vào tế bào hay chưa, các hoá chất được thêm vào sẽ làm cho các tế bào đó đổi màu, điều đó cho thấy trong tế bào có một kháng thể nhất định tức là cũng có kháng nguyên.

Cơ thể thường tạo ra các kháng thể có thể nhận kháng nguyên trên vi trùng và giúp bảo vệ chúng ta chống lại các nhiễm trùng. Các kháng thể được sử dụng trong nhuộm hóa mô miễn dịch là khác nhau. Chúng được áp dụng trong phòng thí nghiệm để có thể nhận ra các kháng nguyên có liên quan đến ung thư và các bệnh khác.

Nhuộm hóa mô miễn dịch rất hữu ích trong việc xác định một số loại ung thư. Ví dụ, sinh thiết thường quy hạch bạch huyết có thể chứa các tế bào trông giống tế bào ung thư, nhưng nhà nghiên cứu bệnh học không thể kết luận liệu đó có phải là ung thư được bắt đầu từ các hạch bạch huyết hay không, đôi khi có thể nó lại xuất phát từ nơi khác trong cơ thể. Nếu ung thư bắt đầu ở hạch bạch huyết, chẩn đoán sẽ là ung thư hạch. Còn nếu ung thư bắt đầu ở phần khác của cơ thể và lan đến hạch bạch huyết thì đó có thể là ung thư di căn. Sự khác biệt này rất quan trọng vì quá trình điều trị có hiệu quả hay không sẽ phụ thuộc vào việc xác định chính xác loại ung thư.

Có hàng trăm kháng thể được sử dụng cho xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch. Vì vậy, một kháng thể có thể được thử nghiệm để quyết định loại ung thư có thể được xem xét bằng sự xuất hiện của ung thư sau khi mẫu sinh thiết được xử lý, vị trí của ung thư và các thông tin khác như: tuổi, giới tính....Từ đó, giúp phân loại ung thu theo cách có thể chọn được phương pháp điều trị tốt nhất.

Mặc dù, nhuộm hóa mô miễn dịch được sử dụng thường xuyên trong việc phân loại tế bào, nhưng chúng cũng có thể được sử dụng để phát hiện hoặc nhận ra tế bào ung thư. Khi một lượng lớn tế bào ung thư đã lan đến hạch bạch huyết gần đó, những tế bào này thường được nhận ra dễ dàng khi nhà giải phẫu bệnh nhìn vào mô hạch huyết dưới kính hiển vi với thuốc nhuộm thông thường. Nhưng nếu chỉ có một vài tế bào ung thư trong hạch bạch huyết, thì rất khó có thể nhận ra nếu chỉ sử dụng thuốc nhuộm thông thường. Đây chính là lúc nhuộm hoá mô miễn dịch phát huy được tác dụng. Khi sử dụng phương pháp này các tế bào ung thư sẽ thay đổi màu sắc và nổi bật rõ ràng hơn so với các tế bào bình thường xung quanh. Tuy nhiên, nhuộm hóa mô miễn dịch không được sử dụng để xem xét mô được bóc tách hạch bạch huyết, nhưng đôi khi chúng được sử dụng trong sinh thiết hạch bạch huyết.

Một cách sử dụng chuyên biệt khác của xét nghiệm này là để giúp phân biệt các hạch bạch huyết có chứa u lympho với các tế bào bị sưng do tăng số lượng tế bào bạch cầu bình thường (phản ứng nhiễm trùng). Một số kháng nguyên có mặt trên bề mặt tế bào bạch cầu gọi là tế bào lympho. Mô hạch bạch huyết lành tính chứa nhiều loại tế bào lympho khác nhau với nhiều loại kháng nguyên trên bề mặt của chúng. Ngược lại, các bệnh ung thư như ung thư hạch bắt đầu với một tế bào bất thường duy nhất, vì vậy các tế bào ung thư phát triển từ tế bào đó thường có chung đặc điểm hoá học của tế bào bất thường đầu tiên. Điều này, đặc biệt hữu ích trong chẩn đoán ung thư hạch. Nếu hầu hết các tế bào trong sinh thiết hạch bạch huyết có cùng kháng nguyên trên bề mặt của chúng, thì kết quả này sẽ hỗ trợ để chẩn đoán ung thư hạch.

Hơn nữa, nhuộm hóa mô miễn dịch có thể giúp nhận ra các chất cụ thể trong các tế bào ung thư ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Ví dụ, nhuộm hóa mô miễn dịch thường được dùng kiểm tra các thụ thể estrogen trên các tế bào ung thư vú. Bệnh nhân có các tế bào có thụ thể này có khả năng được điều trị hiệu quả với các loại thuốc điều trị nội tiết tố với mục đích ngăn chặn sự sản xuất hoặc tác dụng của estrogen.

Nhuộm hóa mô miễn dịch là bước đột phá trong chẩn đoán ung thư.

3. Kính hiển vi điện tử

Kính hiển vi điện tử là loại kính hiển vi điện tử sử dụng chùm electron. Công cụ này có công suất phóng đại điện tử lớn hơn khoảng 1,000 lần so với kính hiển vi thông thường. Mức độ phóng đại này giúp tìm ra các chi tiết rất nhỏ của cấu trúc tế bào ung thư, cung cấp thông tin chính các cho từng loại ung thư. Ví dụ, u ác tính, chẳng hạn như ung thư da là loại ung thư nguy hiểm, có thể trông giống các loại ung thư khác dưới kính hiển vi thông thường và kết quả phân loại có thể không chính xác. Nhưng nếu ung thư da được sử dụng kính hiển vi điện tử có thể xác định được các cấu trúc nhỏ bên trong tế bào khối u ác tính (melanosome). Do đó, kết quả phân loại sẽ chính xác và giúp lựa chọn được phác đồ điều trị tốt nhất.

Hình ảnh kính hiển vi điện tử/Carl Zeiss

4. Tế bào học

4.1. Dòng tế bào học

Dòng tế bào học thường được sử dụng để kiểm tra các tế bào từ tủy xương, hạch bạch huyết và mẫu máu. Chúng đem lại kết quả rất chính xác trong việc tìm ra loại bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch. Hơn nữa, nó cũng giúp cho biết u lympho từ các bệnh không ung thư trong các hạch bạch huyết.

Phân tích các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch bằng phương pháp này sử dụng các nguyên tắc tương tự được giải thích ở phần hoá mô miễn dịch:

- Tìm thấy các chất tương tự trên bề mặt của hầu hết các tế bào trong mẫu cho thấy chúng đến từ một tế bào bất thường duy nhất và có khả năng là ung thư.

- Tìm thấy một số loại tế bào khác nhau với nhiều loại kháng nguyên có nghĩa là mẫu ít có khả năng mắc bệnh bạch cầu hoặc ung thư hạch.

Dòng tế bào còn có thể được sử dụng để đo lượng DNA trong các tế bào ung thư (ploidy). Thay vì sử dụng kháng thể để phát hiện kháng nguyên protein, các thể bào có thể được xử lý bằng thuốc nhuộm đặc biệt phản ứng với DNA:

- Nếu lượng DNA bình thường, thì các tế bào được gọi là lưỡng bội.

- Nếu số lượng DNA bất thường, các tế bào được mô tả là thể bội không chỉnh. Ung thư của thể bội không chỉnh (không phải tất cả) có xu hướng phát triển và lan rộng nhanh hơn các cơ quan lưỡng bội.

4.2. Hình ảnh tế bào

Giống như dòng tế bào, xét nghiệm này sử dụng thuốc nhuộm DNA. Nhưng thay vì phân tích chúng bằng tia laser thì hình ảnh tế bào được sử dụng bởi máy ảnh kỹ thuật số và máy tính sẽ giúp đo được lượng DNA trong các tế bào ung thư (ploidy) trên lam kính.

Xét nghiệm hình ảnh tế bào được áp dụng trong chẩn đoán ung thư

5. Xét nghiệm di truyền

5.1. Di truyền tế bào học

Các tế bào người bình thường có 46 nhiễm sắc thể. Nhưng ở một số loại ung thư có một hoặc nhiều nhiễm sắc thể bất thường. Việc nhận biết được nhiễm sắc thể bất thường sẽ giúp kết quả xác định loại ung thư chính xác hơn. Điều này đặc biệt hữu ích trong chẩn đoán một số u lympho, leukemias và sarcomas. Hơn nữa, nó còn giúp dự đoán tiến triển của bệnh cũng như loại thuốc hóa trị nào mà ung thư có khả năng đáp ứng được.

Một số thay đổi nhiễm sắc thể có thể thấy trong các tế bào ung thư:

- Chuyển vị: Một phần của một nhiễm sắc thể đã bị phá vỡ và nằm trên một nhiễm sắc thể khác.

- Đảo ngược: Một phần của nhiễm sắc thể bị đảo ngược nhưng vẫn gắn vào nhiễm sắc thể bên phải.

- Đứt đoạn: Một phần của nhiễm sắc thể bị mất.

- Trùng lặp: Một phần của nhiễm sắc thể sao chép và quá nhiều bản sao của nó được tìm thấy trong tế bào.

5.2. Lai huỳnh quang tại chỗ

Lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) giống như xét nghiệm tế bào học. Nó có thể tìm thấy hầu hết sự thay đổi nhiễm sắc thể dưới kính hiển vi. FISH sử dụng thuốc nhuộm huỳnh quang đặc biệt liên kết với các đoạn DNA chỉ gắn vào phần cụ thể của nhiễm sắc thể nhất định. Nó tìm thấy những thay đổi nhiễm sắc thể như chuyển vị-đây là yếu tố quan trọng giúp phân loại các bệnh bạch cầu. Hơn nữa, kết quả tìm kiếm còn giúp cho việc xác định xem loại thuốc điều trị mục tiêu nào có thể đáp ứng tốt nhất cho người bệnh.

Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) có thể tìm thấy hầu hết sự thay đổi nhiễm sắc thể dưới kính hiển vi

5.3. Di truyền phân tử

Xét nghiệm di truyền phân tử: Có thể xác định các đột biến ở khu vực DNA kiểm soát sự phát triển của tế bào. Một số đột biến này có thể làm cho bệnh ung thư đặc biệt có khả năng phát triển và lan rộng. Hơn nữa, kết quả của xét nghiệm này cũng giúp bác sĩ chọn được phương phương điều trị có hiệu quả cao nhất.

PCR-phản ứng chuỗi polymerase: Là xét nghiệm di truyền phân tử rất nhạy để tìm các chuỗi DNA. Hơn nữa PCR phiên mã ngược (RT-PCR) là phương pháp được sử dụng để phát hiện một lượng rất nhỏ RNA. RNA là một chất có liên quan đến DNA mà rất cần cho các tế bào để tạo ra protein. Có các RNA cụ thể cho từng protein trong cơ thể. Cho nên, RT-PCR có thể được sử dụng để tìm và phân loại ung thư.

Biểu thị gen vi mô: Công nghệ này giúp kiểm tra hàng trăm thậm chí hàng ngàn RNA khác nhau từ một mẫu và so sánh cùng một lúc. Kết quả sẽ cho biết gen nào đang hoạt động trong khối u. Thêm vào đó, kết quả này còn có thể giúp tiên lượng bệnh cũng như đáp ứng điều trị .

Hơn nữa, xét nghiệm này cũng có thể sử dụng để xác định xem khi ung thư đã lan đến một số bộ phận cơ thể thì nơi nó bắt đầu là ở đâu. Việc xác định được nơi bắt đầu của ung thư sẽ rất hữu ích cho việc lựa chọn điều trị.

Giải mã gen: Phương pháp này sử dụng để xác định những người đã thừa hưởng đột biến gen sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển một số loại ung thư. Kết quả giải mã gen cũng được áp dụng cho việc dự đoán thuốc điều trị mục tiêu cho từng đối tượng ung thư.

(Nguồn: Sưu tầm)

Thông báo
Đóng