Ghi chú kỹ thuật này trình bày một quy trình nhạy để thực hiện 4 phép thử định lượng dược động học/dược lực học (PK/PD) then chốt sử dụng trastuzumab deruxtecan [TDxd] trong huyết tương chuột trên một máy khối phổ danh định (nominal mass spectrometer). Giới hạn định lượng dưới (LLOQ) đạt 0,005 ng/mL đối với payload tự do (deruxtecan; Dxd) và 0,005 µg/mL đối với payload liên hợp, tổng kháng thể và định lượng ADC.
ADC là một nhóm thuốc điều trị ung thư đang mở rộng nhanh chóng, kết hợp tính đặc hiệu mục tiêu của kháng thể đơn dòng với độc tính tế bào mạnh của các thuốc phân tử nhỏ, được liên kết thông qua các cầu nối hóa học (chemical linkers). Quy trình định lượng ADC bao gồm 3 phép thử phân tích sinh học chính, cụ thể là: payload tự do, tổng kháng thể và ADC. Mỗi phép thử này cung cấp những hiểu biết độc đáo về hành vi của ADC, cho phép đánh giá PK/PD toàn diện. Độ nhạy và hiệu suất định lượng là những yếu tố then chốt trong phân tích ADC để cho phép đánh giá chính xác và kỹ lưỡng về độ ổn định, độ an toàn và hiệu quả điều trị của thuốc.
Giới thiệu: Tìm hiểu về chế độ phân tích ZT Scan DIA mang tính cách mạng về hiệu suất và thông lượng trên dòng khối phổ phân giải cao mới nhất từ SCIEX, LC-QTOF 7600+. Bài viết này dịch và giải thích phần lớn nội dung của tài liệu “Continuing the data independent acquisition (r)evolution: Introducing ZT Scan DIA for quantitative proteomics, Link gốc: https://sciex.com/technology/zt-scan-dia/continuing-the-data-independent-acquisition-revolution-introducing-zt-scan-dia-for-quantitative-proteomics#zt”, cung cấp 1 số kiến thức liên quan tới SWATH DIA, Zeno SWATH DIA và ZT Scan DIA. Về người biên tập, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.
Giới thiệu: Bài viết này tóm tắt và lược dịch nội dung trong ghi chú ứng dụng “Sensitive and accurate characterization of Z drugs, metabolites and their degradation profile in urine using LC-MS/MS, ”. Thêm vào đó cung cấp cho bạn đọc một số khái niệm cơ bản liên quan tới khối phổ thời gian bay (Time of Flight) khối phổ ba tứ cực (Triple Quad), và trình bày quan điểm của tác giả liên quan tới việc sàng lọc, phân tích nhạy và định danh tin cậy các chất liên quan trong nền mẫu nước tiểu. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492
Tiêu chuẩn cấp nước phòng thí nghiệm xác định các loại nước khác nhau trong phòng thí nghiệm dựa trên các lý do về kỹ thuật và kinh tế. Mục đích của các tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng nước phù hợp được sử dụng cho một ứng dụng cụ thể, đồng thời hạn chế chi phí vận hành phòng thí nghiệm – Sản xuất nước Loại 1 đắt hơn nước Loại 2 hoặc Loại 3.
Thông thường, khi so sánh cấu hình giữa các thiết bị LC/MS với nhau, người sử dụng thường so sánh độ nhạy của máy theo hai giá trị là độ nhạy của thiết bị tính theo S/N (signal to noise hay tín hiệu trên nhiễu) và giá trị giới hạn phát hiện của thiết bị (Instrument detection limit).
Cả hai giá trị này đều sử dụng tín hiệu của Reserpine cho mode dương và Chloramphenicol cho mode âm. Vậy hai giá trị trên được tín như thế nào và giá trị nào thì tốt hơn cho khách hàng tham khảo?
Busulfal là một tác nhân alkyl hóa hai nhóm chức có tính khả dụng sinh học khác nhau nhiều trong từng đối tượng do các yếu tố như tuổi, nền bệnh và tương tác thuốc-thuốc.
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp