No image
Ứng dụng

Phân tích các per- và polyfluoroalkyl trong sữa bột trẻ em với hệ SCIEX 7500

Bài viết này tóm tắt và lược dịch nội dung trong ghi chú ứng dụng “A robust and sensitive routine analysis method of 40 PFAS compounds in surface water using the SCIEX 7500 system” của các tác giả Karl A. Oetjen và Simon Roberts (SCIEX, USA). Cung cấp cho bạn đọc hướng tiếp cận liên quan tới việc xác định giới hạn phát hiện phương pháp trong phân tích các PFAS trong mẫu sữa công thức của trẻ em. Nội dung tập trung vào việc chọn mẫu sữa ít bị ô nhiễm về PFAS trên thị trường và việc xác định MDL tuân thủ theo AOAC SMPR và 40 CFR 136 Phụ lục B, cũng như 1 số yêu thách thức tới từ nhiễm chéo từ các vật tư trong phòng thí nghiệm và ảnh hưởng tới từ các cholic acid. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.

No image
Quan trắc môi trường

Phân tích Thường quy Ổn định và Nhạy cho 40 Hợp chất PFAS trong Nước Mặt bằng Hệ thống SCIEX 7500

Báo cáo kỹ thuật này mô tả một phương pháp ổn định và nhạy để phân tích các chất per- và polyfluoroalkyl (PFAS) trong nước mặt dựa trên Chỉ thị 2020/2184 của EU và WAC/IV/A/025 và được công nhận theo tiêu chuẩn ISO 17025. Sử dụng hệ thống SCIEX 7500, một phương pháp toàn diện cho 40 hợp chất PFAS được phát triển với giới hạn phát hiện (LOD) từ 0,5 - 5 ng/L và giới hạn định lượng (LOQ) từ 1 - 10 ng/L trong nước mặt. Nghiên cứu thẩm định cho thấy độ chính xác, độ lặp lại tốt và thời hạn sử dụng 4 tuần cho tất cả các hợp chất PFAS. Một chương trình kiểm soát chất lượng kỹ lưỡng đã được thực hiện để đảm bảo chất lượng dữ liệu nhất quán trong quá trình phân tích thường quy. Ví dụ, biểu đồ Shewhart cho PFBS cho thấy độ chính xác và độ ổn định của thiết bị tốt đối với mẫu chuẩn 60 ng/L (xem Hình 1). Việc sử dụng các cột tính toán và quy tắc gắn cờ tùy chỉnh trong phần mềm SCIEX OS giúp xử lý và xem xét dữ liệu nhanh chóng, hiệu quả.

No image
Khoa học hình sự

Kỹ thuật kết tủa protein trong xử lý mẫu máu trong phân tích độc học pháp y: Thách thức, phương pháp, lưu ý và xu hướng.

Lời giới thiệu: TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Bài viết này trình bày một vài quan điểm cá nhân của tác giả và cung cấp 1 số khái niệm cơ bản liên quan tới việc xử lý mẫu máu trong phân tích độc học pháp y sử dụng kỹ thuật kết tủa protein nhằm đảm bảo độ chính xác, độ nhạy và tính tái lập. Mẫu máu pháp y, đặc biệt là từ tử thi, đặt ra nhiều thách thức do hiện tượng tái phân bố thuốc, phân hủy sinh học và nền mẫu sinh học phức tạp. Bài viết này trình bày tổng quan về các vấn đề thường gặp trong xử lý mẫu máu pháp y khi sử dụng kỹ thuật kết tủa protein như 1 kỹ thuật xử lý mẫu truyền thống, dễ triển khai và chi phí thấp, cũng như các lưu ý nhằm đảm bảo kết quả phân tích đáng tin cậy.

No image
Phân tích vật liệu

Đo điện trở tấm và độ linh động không phá hủy cho vật liệu bán dẫn phức hợp

Điện trở tấm, độ linh động (mobility) và mật độ điện tích tấm là những chỉ tiêu kiểm soát chất lượng quan trọng giúp tăng hiệu suất sản xuất wafer bán dẫn phức hợp. Tuy nhiên, các phương pháp đo truyền thống – sử dụng đầu dò bốn điểm để đo điện trở tấm, hoặc phép đo Hall để xác định độ linh động và mật độ điện tích – đều là các phương pháp phá hủy, không phù hợp cho môi trường sản xuất thông lượng lớn.

Bài trình bày này sẽ giới thiệu các cải tiến mới nhất trong hệ thống đo điện trở tấm của SEMILAB, nay đã có khả năng xử lý wafer tự động với tất cả các kích thước wafer bán dẫn phức hợp, bao gồm cả GaN và SiC 2–3 inch. SEMILAB cũng sẽ giới thiệu thiết bị mới để đo độ linh động không tiếp xúc ở nhiệt độ phòng. Các ứng dụng trong kiểm soát quy trình sẽ được trình bày.

No image
Ứng dụng

Phương pháp phân tích các chất hướng thần mới trong dược học và độc học - Chương 4

Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 4 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_4”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 4 cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các phương pháp phân tích hiện tại cũng như quan điểm của tác giả liên quan tới việc phát hiện và định lượng các chất opioid tổng hợp mới (NSO) trong các mẫu sinh học như máu, huyết tương, huyết thanh và nước tiểu. 

No image
Tin tức

Cách mạng trong ghi tín hiệu không phụ thuộc: Giới thiệu ZT Scan DIA cho phân tích định lượng protein

Giới thiệu: Tìm hiểu về chế độ phân tích ZT Scan DIA mang tính cách mạng về hiệu suất và thông lượng trên dòng khối phổ phân giải cao mới nhất từ SCIEX, LC-QTOF 7600+. Bài viết này dịch và giải thích phần lớn nội dung của tài liệu “Continuing the data independent acquisition (r)evolution: Introducing ZT Scan DIA for quantitative proteomics, Link gốc: https://sciex.com/technology/zt-scan-dia/continuing-the-data-independent-acquisition-revolution-introducing-zt-scan-dia-for-quantitative-proteomics#zt”, cung cấp 1 số kiến thức liên quan tới SWATH DIA, Zeno SWATH DIA và ZT Scan DIA. Về người biên tập, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.

Xác định nhanh chóng và hiệu quả các ứng viên thuốc sinh học thông qua phân tích sàng lọc thông lượng cao
Tin tức

Xác định nhanh chóng và hiệu quả các ứng viên thuốc sinh học thông qua phân tích sàng lọc thông lượng cao

Lời giới thiệu: Bài viết này, dịch và tóm tắt phần lớn nội dung chính trong ghi chú kỹ thuật: " Fast and efficient identification of candidate biotherapeutics through high-throughput screening analysis, Link gốc: https://sciex.com/tech-notes/biopharma/fast-and-efficient-identification-of-candidate-biotherapeutics-through-high-throughput-screening-analysis", cung cấp một 1 số kiến thức cơ bản liên quan tới phân tích nguyên vẹn protein và các subunit. Về người biên tập, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. 

Phương pháp phân tích các chất hướng thần mới trong dược học và độc học - Chương 3
Tin tức

Phương pháp phân tích các chất hướng thần mới trong dược học và độc học - Chương 3

Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 3 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_3”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 3 cuốn sách này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các phương pháp phân tích hiện tại để phát hiện và định lượng các chất gây ảo giác và kích thích như phenethylamin, tryptamin và piperazin trong các mẫu sinh học như máu, huyết tương, huyết thanh và nước tiểu. Các chất này, bao gồm các chất gây ảo giác cổ điển như LSD và các hợp chất mới nổi như NBOMe, có các đặc tính hóa lý tương tự, gây nhiều khó khăn cho việc phân tích.

Thông báo
Đóng